Author Archives: admin

  • -

QUATEST 2 TỔ CHỨC HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2017 PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2018

Chiều ngày 10-01-2018, tại Hội trường Khách sạn Công đoàn Thanh Bình (233 Nguyễn Tất Thành, thành phố Đà Nẵng) Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2 tiến hành hội nghị tổng kết công tác năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018.

Tham dự Hội nghị có ông Trần Văn Vinh – Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL, ông Trần Anh Tuấn – Chánh Văn phòng Tổng cục TCĐLCL, ông Trần Đức Thắng – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính Tổng cục TCĐLCL, bà Trần Thị Tuyết – Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Tổng cục TCĐLCL, ông Đoàn Văn Bắc – Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2 cùng toàn thể cán bộ viên chức – người lao động Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2  .

Tại Hội nghị, ông Đoàn Văn Bắc – Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2 đã trình bày Báo cáo tóm tắt tổng kết công tác năm 2017, triển khai công tác năm 2018 của đơn vị, qua đó nêu bật những mặt đã làm được, chưa làm được, tồn tại, nguyên nhân và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp triển khai công tác năm 2018. Hội nghị cũng đã tiến hành tham luận để làm rõ những vấn đề quan trọng, mấu chốt đối với công tác năm 2017 và phương hướng năm 2018

Hội nghị Tổng kết công tác năm 2017, phương hướng nhiệm vụ năm 2018

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị ông Trần Văn Vinh – Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL đã ghi nhận và biểu dương những thành tích mà cán bộ viên chức – người lao động Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2 đã đạt được trong năm 2017, đồng thời cũng đã chỉ ra những tồn tại, cũng như định hướng một số công tác trọng tâm mà Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2 cần tập trung thực hiện trong thời gian tới.

Thay mặt Đảng ủy, Lãnh đạo Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2, ông Đoàn Văn Bắc, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL 2  đã tiếp thu, cảm ơn những ý kiến chỉ đạo của ông Trần Văn Vinh ; đồng thời quán triệt tới toàn thể cán bộ viên chức – người lao động những quan điểm, nhiệm vụ xuyên suốt trong năm 2018.

Hội nghị đã thông qua dự thảo Nghị quyết Hội nghị tổng kết công tác năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018 đồng thời lấy ý kiến Hội nghị về dự thảo Nghị quyết: 100 % CCVC-LĐ có mặt biểu quyết thống nhất thông qua dự thảo Nghị quyết đại hội.

(M.Hùng – HCTC)


  • -

Phần mềm tra cứu thông tin sản phẩm và thông tin doanh nghiệp có đăng ký sử dụng mã số mã vạch của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tra cứu thông tin sản phẩm và thông tin doanh nghiệp có đăng ký sử dụng mã số mã vạch của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và quét kiểm tra tính hợp pháp của mã số mã vạch và thông tin chính hãng về sản phẩm hàng hoá trước khi mua, kể từ ngày 4-1-2018  Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã chính thức phát hành phần mềm  tra cứu thông tin sản phẩm và thông tin doanh nghiệp có đăng ký sử dụng mã số mã vạch phiên bản 1.0.
Link tải App: https://play.google.com/store/apps/details?id=com.gs1vn.scanandcheck&hl=vi (cho Android V 4.0.3 trở lên)

 


  • -

Thị trường nước uống đóng chai: ‘Vàng thau’ lẫn lộn

Nhu cầu sử dụng nước uống đóng chai, đóng bình ngày càng tăng cao, nhiều cơ sở sản xuất sản phẩm này mọc lên “như nấm mọc sau mưa” dẫn đến tình trạng bát nháo, đe dọa ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.

“Trăm hoa đua nở”
Theo khảo sát của PV Chất lượng Việt Nam, hiện nay trên thị trường nước uống đóng chai có rất nhiều thương hiệu, nhà sản xuất. Chiếm thế thượng phong ở thị trường nước uống đóng chai Việt Nam là sản phẩm nước tinh khiết, với các thương hiệu Aquafina (PepsiCo), Sapuwa (Công ty Nước uống Tinh khiết Sài Gòn) và Joy (Coca-Cola). Chiếm các mức thị phần thấp hơn là nhãn hiệu thuộc các cơ sở sản xuất theo mô hình gia đình như Evitan, Hello, Alive, Aquaquata, Bambi.

Những nhãn hiệu nổi tiếng của các ‘ông lớn” Pepsi, Cocacola như Aquafina, Dasani… luôn chiếm ưu thế trên thị trường nước đóng chai. Ảnh T. U

Ở phân khúc nước khoáng đóng chai, thương hiệu La Vie (hiện thuộc Nestlé) tiếp tục chiếm vị trí quán quân với tỉ lệ thị phần vượt xa 2 thương hiệu tiếp theo là Vital và Vĩnh Hảo. Phân khúc này còn gồm hơn 20 nhãn hàng khác như Thạch Bích, Đảnh Thạnh, Evian, Laska, Dakai, Water Maxx, Vikoda.

Hiện, mỗi chai nước 500ml được bán với giá từ 4.300 – 6.000 đồng, mỗi bình 20 lít được bán với giá từ 12.000 – 15.000 đồng cho những sản phẩm do các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ sản xuất. Các hãng có nhãn hiệu nổi tiếng như: Miru, Lavie, Vĩnh Hảo… được bán phổ biến ở mức giá 38.000 – 45.000 đồng/ bình 20 lít.

Ngoài ra thị trường nước, sản phẩm không có tem nhãn, các sản phẩm này có giá thường rất thấp gây rối loạn thị trường nước uống đóng chai. Giá phổ biến ở các loại nước đóng chai này chỉ có giá từ 10.000 – 12.000đ/ bình 20 lít.

Bên cạnh những nhãn hàng có tên tuổi, truyền thống trong nước và thế giới, tồn tại rất nhiều những doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ mặt hàng này. Số cơ sở sản xuất nước uống đóng chai cũng tăng nhanh theo nhu cầu người dân. Tuy nhiên bên cạnh sự nở rộ của mặt hàng này đang bộc lộ nhiều nỗi lo, đặc biệt là chất lượng.

Trước hết là tình trạng làm “nhái” những nhãn hiệu nổi tiếng ngày càng nhiều. Hãng Lavie phát hiện hơn 100 nhãn hiệu nước uống tinh khiết đang tiêu thụ trên thị trường “nhái” thương hiệu của công ty. Nhiều cơ sở sản xuất chỉ thêm sau chữ Lavie một vài mẫu tự hay cách viết khác di như Lavis, Leve, Lovea, Leva, Bavie… Hay hãng Aquafina thì có các sản phẩm nhái như Aquafona, Aquanova… thậm chí nhái luôn cả tên chính hãng rồi tung sản phẩm ra thị trường.

Theo chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú – nguyên GĐ Sở Thương Mại Hà Nội, là mặt hàng có tốc độ phát triển nhanh ở Việt Nam trong những năm gần đây, nước lọc đóng chai, đóng bình mang lại lợi nhuận cao so với các ngành sản xuất khác khác.

“Ở Việt Nam hiện có hàng ngàn cơ sở sản xuất cả nước tinh khiết và nước khoáng được phân phối ở 700 siêu thị, 125 trung tâm thương mại, hàng vạn cửa hàng lẻ. Tuy nhiên, qua các cuộc kiểm tra của cơ quan chức năng có hàng trăm cơ sở vi phạm ở nhiều dạng khác nhau. Tình trạng hàng nhái, hàng giả xuất hiện ngày càng nhiều chưa được ngăn chặn một cách cơ bản”, ông Phú cho biết.

Theo thông tin, số liệu, dữ liệu của các ngành hàng trong những năm gần đây, tồn tại số lượng không nhỏ các sản phẩm không đạt theo yêu cầu kỹ thuật, đặc biệt là sản phẩm nước uống qua lọc uống trực tiếp tại trường học, công sở, bệnh viện, nơi công cộng và nước uống đóng bình.

Trên thị trường xuất hiện không ít sản phẩm nước uống đóng chai nhái những nhãn hiệu có uy tín. Ảnh T.U
Nỗi lo chất lượng

Theo chuyên gia của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 2, quy trình để sản xuất nước uống đóng chai, đóng bình bảo đảm chất lượng bắt buộc phải trải qua các bước cụ thể như sau: Nước thô được lọc qua than hoạt tính để khử mùi, sau đó trao đổi ion khử các loại khoáng, tạp chất và vi sinh… Khi qua hệ thống đóng chai phải là môi trường vô trùng, có tia cực tím để chống vi sinh vật.

Một sản phẩm nước đóng chai muốn được chứng nhận bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm phải được kiểm định 14 tiêu chí về lý, hóa, vi sinh. Ngoài ra, sau khi nước được xử lý bằng thiết bị lọc, thì phải bảo đảm 28 tiêu chí trước khi chiết vào bình. Tuy nhiên, với những hệ thống xử lý nước kiểu rẻ tiền sẽ khó đạt được những tiêu chuẩn trên.

Chẳng hạn, cũng là máy khử khuẩn bằng tia cực tím, nhưng nếu là thiết bị không bảo đảm, chỉ có thể diệt khoảng 30% vi khuẩn có trong nước ngầm. Nguy hiểm nhất là chủng E.coli, luôn có sẵn trong nước giếng khoan, không được khử triệt để sẽ tồn tại trong nước đóng bình, rồi vào cơ thể người gây bệnh. Chưa kể đến hàm lượng các kim loại nặng có trong nước giếng khoan, nếu không xử lý triệt để cũng là nguy cơ gây bệnh cho người sử dụng.

Thực tế cho thấy, một số cơ sở có thể trong giai đoạn đầu tư họ đảm bảo đúng, nhưng trong quá trình sản xuất, do nhu cầu sử dụng cao nên đôi khi họ bỏ bớt các công đoạn, nhất là vào thời điểm nắng nóng. Vào tháng 8/2017, tại Quảng Nam, xuất hiện tình trạng sử dụng nước giếng và hóa chất để sản xuất nước uống đóng chai.

Đề cập về tình trạng chất lượng của sản phẩm nước uống đóng chai vẫn chưa được kiểm soát và quản lý chặt chẽ, chuyên gia kinh tế Vũ Vinh Phú cho rằng, vai trò cơ quan chức năng như quản lý thị trường và chính quyền địa phương chưa rõ nét, Vì vậy tình trạng sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm kém chất lượng, không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn diễn ra. Bên cạnh đó, việc hậu kiểm sau cấp phép còn lơi lỏng nên dẫn đến phép nước bị coi thường.

“Để quản lý tốt mặt hàng này, trước hết cần rà soát lại các cơ sở sản xuất và hệ thống phân phối. Kiên quyết cho đóng cửa những tổ chức cá nhân vi phạm nghiêm trọng hoặc tái phạm. Đặc biệt cần đưa mặt hàng này vào diện quản lý theo chuỗi từ sản xuất đến phân phối và đặc biệt phải nâng cao vai trò trách nhiệm của chính quyền địa phương làm tốt công tác rà soát kiểm tra các doanh nghiệp trên đia bàn quản lý”, ông Phú nói.

(Theo Vietq.vn)


  • -

70% người dân đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi tham gia giao thông

Theo thống kê của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, sau 10 năm thực hiện triển khai quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người đi mô tô, xe gắn máy, tỷ lệ người dân chấp hành đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông đã đạt hơn 90%. Việc đội mũ bảo hiểm góp phần quan trọng trong kết quả giảm số người chết vì tai nạn giao thông xuống dưới 9.000 người mỗi năm cũng như hạn chế nhiều thương tích nặng.

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thể cùng đại diện các Bộ, ngành trong Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện đội mũ bảo hiểm

Tuy nhiên, theo ông Khuất Việt Hùng – Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, tỷ lệ đội mũ bảo hiểm cho trẻ em hiện nay còn thấp, ở mức 35-40%.

Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Ngọc Tường – Phó Trưởng ban chuyên trách, Ban An toàn giao thông TP Hồ Chí Minh cho hay, tỷ lệ trẻ em đội mũ bảo hiểm đạt thấp là điều luôn khiến người làm công tác như ông không an tâm.

“Chúng tôi đã tổ chức chiến dịch tuyên truyền đến các trường học, kết hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, công an thành phố về việc đội mũ bảo hiểm cho trẻ em. Tỷ lệ trẻ em đội trong chiến dịch lên tới 95% tại khu vực thành thị. Tại các vùng nông thôn, tỷ lệ này nâng từ 30% lên 60% nhưng hết chiến dịch thì không duy trì được. Ở đây cần cả trách nhiệm của cha mẹ các em”.

Theo quy định, trẻ em từ 6 tuổi trở lên bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm. Tuy nhiên, trong 10 năm qua, chỉ tính riêng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, lực lượng chức năng đã xử phạt hơn 500 nghìn trường hợp không đội mũ bảo hiểm, trong đó có 1.920 trường hợp không đội mũ bảo hiểm cho trẻ em.

Cho rằng tỷ lệ đội mũ bảo hiểm cho trẻ em ở vùng nông thôn thấp hơn khu vực thành thị và vào các dịp lễ, Tết, tỷ lệ người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm gia tăng, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Tuấn- Phó Cục trưởng Cục cảnh sát giao thông, Bộ Công an cho hay, tính từ ngày 15/9/2007 đến ngày 15/11/2017, công an các đơn vị, địa phương đã lập biên bản xử lý vi phạm không đội mũ bảo hiểm, hoặc đội mũ bảo hiểm nhưng không cài quai đối với 6.891.646 trường hợp, chiếm 11,89% tổng số vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Trẻ em là đối tượng cần được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng nên việc thực hiện đội mũ bảo hiểm vô cùng quan trọng. Do đó, cần nâng cao ý thức của toàn xã hội về vấn đề này.

TS Kidong Park- Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam phát biểu tại hội nghị 

TS. Kidong Park – Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, cho biết, theo nghiên cứu của WHO, tỷ lệ người đội mũ bảo hiểm tại Việt Nam đạt cao nhưng tỷ lệ người cài dây mũ và đội mũ đạt chuẩn chỉ khoảng 70%.

“Đáng chú ý, năm 2013, WHO khảo sát chỉ có 30% mũ bảo hiểm trên thị trường đạt chuẩn. Tuy nhiên, đối với các loại mũ đạt chuẩn, khi chúng tôi tiến hành kiểm tra thì chỉ có 40% đáp ứng tất cả các yêu cầu” – TS Kidong Park nói.

Đại diện WHO cho rằng, Việt Nam cần quy định cụ thể, rõ ràng về việc sản xuất, đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn vì hiện tăng trưởng số lượng xe máy tại Việt Nam vẫn cao thứ hai trên thế giới để bảo vệ tính mạng cho người tham gia giao thông.

Các đại biểu tham dự hội nghị

Theo ông Hồ Nghĩa Dũng – nguyên Bộ trưởng Bộ GTVT, mũ bảo hiểm giả, kém chất lượng vẫn tràn lan là một trong những vấn đề còn nhức nhối. Ông Hồ Nghĩa Dũng đề nghị cần chấn chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh mũ bảo hiểm, trong đó chú trọng kiểm tra kiểm soát ở khâu sản xuất. Đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền về việc đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn để quy định này được thực hiện thực sự, tránh hình thức.

Chia sẻ tại hội nghị, ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng, Bộ KH&CN cho biết, trước vấn nạn mũ giả mũ bảo hiểm còn tương đối lớn trên thị trường, do vậy trọng tâm trong thời gian tới các cơ quan hữu quan liên quan và đặc biệt là Ủy ban ATGTQG phải đẩy mạnh truyền thông mạnh mẽ, đặc biệt các cơ quan thực thi như công an, quản lý thị trường phải kiên quyết xử lý các trường hợp cố tình sản xuất, kinh doanh mũ bảo hiểm giả và các hành vi vi phạm khi sử dụng mũ không phải mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông.

(Nguồn:vietq.vn)

  • -

Ứng dụng mã số mã vạch nâng cao chất lượng hàng hóa trong siêu thị

Với khoảng 23.000 doanh nghiệp đã đăng ký sử dụng mã số mã vạch, điều này đã tạo thuận lợi cho hàng triệu sản phẩm của Việt Nam được định danh trên kệ hàng của các siêu thị.

Nhằm nâng cao uy tín và hiệu quả kinh doanh của hệ thống siêu thị thông qua việc đảm bảo chất lượng thông tin liên quan đến mã số mã vạch (MSMV), sáng nay 2/11, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) đã tổ chức hội thảo “Nâng cao hiệu quả ứng dụng MSMV đối với các sản phẩm, hàng hóa trong siêu thị Việt Nam”.

Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Trần Văn Vinh phát biểu tại hội thảo

Phát biểu tại hội thảo, Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL Trần Văn Vinh khẳng định, ứng dụng MSMV trong chuỗi cung ứng đã tạo nên phương thức bán hàng văn minh, đáp ứng khách hàng hiệu quả, hàng hóa lưu thông thông suốt, giảm lao động thủ công, đem lại lợi ích cho tất cả các bên.

Tuy nhiên, khi nhận định về vị trí của MSMV trong hoạt động của doanh nghiệp, ông Trần Văn Vinh cho rằng dù MSMV rất quan trọng, hoạt động này đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp, cộng đồng và văn minh thương mại nhưng trên thực tế tại Việt Nam việc ứng dụng công nghệ MSMV vẫn còn hạn chế, chưa đem lại hiệu quả cao, tác dụng đúng.

Theo đó, ông Vinh mong muốn Tổng cục TCĐLCL cùng với các đại diện siêu thị tại Việt Nam tích cực tìm phương án để đẩy mạnh ứng dụng MSMV phục vụ cho bán lẻ, nâng cao hiệu suất kinh doanh đồng thời phục vụ cho người dân thuận tiện hơn trong việc tìm kiếm thông tin và minh bạch thông tin sản phẩm hàng hóa.

Việc ứng dụng MSMV đối với các sản phẩm, hàng hóa trong siêu thị được sự quan tâm của các chuyên gia, doanh nghiệp

Tuy nhiên, việc sử dụng MSMV ở nước ta theo các chuyên gia vẫn còn nhiều hạn chế. Tình hình vi phạm sử dụng MSMV đang có chiều hướng gia tăng như hiện tượng sử dụng MSMV không đăng ký, chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cũng như chất lượng in, sử dụng MSMV nước ngoài không khai báo hoặc không được chủ sở hữu mã cho phép, ủy quyền… dẫn đến tình trạng thông tin sản phẩm trao đổi trong chuỗi cung ứng bị sai lệch, gây nhầm lẫn trong khâu quản lý, bán hàng, giao nhận, vận chuyển, thanh toán làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả của các đơn vị ứng dụng MSMV cụ thể là các siêu thị. Theo ông Vũ Vinh Phú – Ủy viên BCH Hội MSMV Việt Nam, hiện nay đầu vào của các siêu thị có nguồn hàng phức tạp, nhiều tổ chức sản xuất chưa tham gia MSMV, do vậy công tác thu mua hàng hóa, bán ra gặp rất nhiều khó khăn. Việc áp dụng MSMV vào việc truy xuất nguồn gốc hàng hóa với một vài sản phẩm thiết yếu như thịt lợn, gà trứng ở TP. HCM đã triển khai nhiều tháng nay song vẫn còn nhiều trục trặc.

“Truy xuất nguồn gốc thông qua MSMV là điều kiện cần chứ chưa đủ, chúng ta cần nghiên cứu một cách nghiêm túc để có thể sử dụng công cụ MSMV một cách hiệu quả hơn vào sản xuất kinh doanh và hệ thống phân phối nội địa ở Việt Nam”, ông Phú nói.

Các đại biểu tham gia hội thảo đã có những ý kiến tìm kiếm giải pháp đẩy mạnh ứng dụng MSMV một cách hiệu quả đối với hàng hóa trong siêu thị

Theo ông Đinh Tiến Thành – Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam, hiện nay trong hệ thống siêu thị hiện nay các mặt hàng sản phẩm tươi sống như thịt, cá, rau củ quả, hoa quả… chưa có mã vạch mà mới chỉ có mã do các siêu thị tự gắn để quản lý hàng hóa. Do đó, đại diện hệ thống siêu thị Intimex đề xuất Tổng cục cần xây dựng quy chế riêng về mã vạch cho hàng hóa tươi sống để cho mỗi siêu thị đăng ký mã riêng từ đó có sự đồng nhất giúp cho người tiêu dùng nhận diện hàng hóa dễ dàng hơn.

Hội thảo cũng được đại diện Tổng cục TCĐLCL giới thiệu về cơ sở dữ liệu quốc gia về MSMV, phần mềm Scan&Check quét mã vạch trên điện thoại di động và các giải pháp MSMV để xác thực nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

Công nghệ MSMV được ứng dụng vào Việt Nam từ 1995 và được Thủ tướng Chính phủ giao cho Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hoạt động này. MSMV là công cụ tạo thuận lợi cho hoạt động quản lý tự động của đa ngành, đặc biệt MSMV được ứng dụng trong chuỗi cung ứng đem lại hiệu quả cho hoạt động quản lý bán hàng tại siêu thị, quản lý xuất nhập tại kho và trung tâm phân phối…

Đến nay, đến nay, có khoảng 23.000 doanh nghiệp Việt Nam đã đăng ký sử dụng MSMV tạo thuận lợi cho hàng triệu sản phẩm của Việt Nam gắn MSMV đầu 893 lưu thông trên thị trường trong nước và quốc tế.

(Theo Vietq)


  • -

Rượu thủ công phải dán tem và ghi nhãn theo quy định

Nghị định nêu rõ, rượu sản xuất để tiêu thụ trong nước và rượu nhập khẩu phải được dán tem và ghi nhãn hàng hóa theo đúng quy định.

Chính phủ đã ban hành Nghị định 105/2017/NĐ-CP, quy định về kinh doanh rượu. Nghị định này này quy định về hoạt động kinh doanh rượu, bao gồm: Hoạt động sản xuất, nhập khẩu, phân phối, bán buôn, bán lẻ rượu; hoạt động bán rượu tiêu dùng tại chỗ. Nghị định có hiệu lực từ 1/11/2017.

Kinh doanh rượu thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tổ chức, cá nhân sản xuất rượu công nghiệp, sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, phân phối rượu, bán buôn rượu, bán lẻ rượu, bán rượu tiêu dùng tại chỗ phải có giấy phép theo quy định tại Nghị định này. Tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công để bán cho doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp để chế biến lại phải đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã.

Theo đó, các tổ chức, cá nhân sản xuất rượu công nghiệp, rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, phân phối rượu, bán buôn, bán lẻ, bán rượu tiêu dùng tại chỗ phải có giấy phép theo quy định. Tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công bán cho doanh nghiệp có giấy phép sản xuất rượu công nghiệp để chế biến lại phải đăng ký với UBND cấp xã.

Rượu thủ công phải dán tem và ghi nhãn theo quy định. Ảnh minh họa/VOV

Rượu đã có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố hợp quy và đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường.

Rượu chưa có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm và đăng ký bản công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường cho đến khi quy chuẩn kỹ thuật tương ứng được ban hành và có hiệu lực.

Thủ tục công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm theo quy định của Luật an toàn thực phẩm, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành khác liên quan.

Rượu sản xuất để tiêu thụ trong nước và rượu nhập khẩu phải được dán tem và ghi nhãn hàng hóa theo quy định, trừ trường hợp rượu được sản xuất thủ công để bán cho doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất rượu công nghiệp để chế biến lại; rượu bán thành phẩm nhập khẩu không phải dán tem.

Nghị định quy định rõ các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh rượu gồm: Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung ghi trong giấy phép theo quy định tại Nghị định này; sử dụng cồn thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn, cồn công nghiệp hoặc nguyên liệu bị cấm khác để sản xuất, pha chế rượu; cho thuê, cho mượn Giấy phép kinh doanh rượu; trưng bày, mua, bán, lưu thông, tiêu thụ các loại rượu không có tem, nhãn đúng quy định của pháp luật, rượu không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, an toàn thực phẩm, rượu không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; bán rượu cho người dưới 18 tuổi, bán rượu có nồng độ cồn từ 15 độ trở lên qua mạng Internet, bán rượu bằng máy bán hàng tự động; quảng cáo, khuyến mại rượu trái quy định của pháp luật.

(Nguồn:vietq.vn)


  • -

Bộ KH&CN khẳng định vai trò ‘nhạc trưởng’ trong lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho biết, hiện hoạt động của Bộ KH&CN bám sát trên 3 mặt trận: Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Sở hữu trí tuệ và công nghệ. Trong đó, công tác kiểm tra chuyên ngành, Bộ KH&CN đang là “nhạc trưởng”.

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh:  Liên quan đến việc kiểm tra chuyên ngành, Bộ KH&CN với vai trò là cơ quan chủ trì và là “nhạc trưởng” trong lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Ảnh Huy Hùng

Tại buổi làm việc với Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng là Tổ trưởng, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh đã cho biết, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ KH&CN, từ quản lý Nhà nước về nghiên cứu khoa học và phát triển (R&D) thêm nội dung quản lý Nhà nước về đổi mới sáng tạo. Theo đó, toàn bộ chính sách KH&CN đã lập tức đổi mới theo chỉ đạo của Thủ tướng, tức là hướng toàn bộ tri thức, kết quả nghiên cứu KH&CN gắn với thực tiễn cuộc sống với sự tham gia của các doanh nghiệp.

Tính đến ngày 10/10/2017, Bộ KH&CN được Thủ tướng Chính phủ giao 403 nhiệm vụ. Trong đó, đã hoàn thành 245 nhiệm vụ; đang thực hiện 158 nhiệm vụ (đều trong hạn).

“Như vậy 100% nhiệm vụ Thủ tướng giao cho Bộ KH&CN đều không bị quá hạn. Đây là một nỗ lực của lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của Bộ KH&CN” – Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Tại buổi làm việc với nội dung liên quan đến công tác kiểm tra chuyên ngành. Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho biết, hiện hoạt động của Bộ KH&CN bám sát trên 3 mặt trận: Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng (TCĐLCL), Sở hữu trí tuệ và đổi mới công nghệ.

Trong đó, công tác kiểm tra chất lượng chuyên ngành về Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Bộ đang là “nhạc trưởng” của 3 Luật liên quan: Luật Tiêu chuẩn Quy chuẩn Kỹ thuật, Luật Đo lường, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, để thực hiện được vai trò “nhạc trưởng”, Bộ KH&CN bày tỏ mong muốn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành liên quan trong những chặng đường tiếp theo.

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh cho hay, xung quanh việc kiểm tra chuyên ngành, Bộ KH&CN sẽ quán triệt chỉ đạo và tiếp tục nỗ lực. Với vai trò là cơ quan chủ trì và “nhạc trưởng” của 3 Luật liên quan thuộc lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, đã thể hiện nỗ lực và trách nhiệm của Bộ KH&CN. Đặc biệt, đối với một số mặt hàng chuyển 91% từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giảm 96% mặt hàng phải kiểm tra khi thông quan, điều này vượt xa yêu cầu chung của Chính phủ.

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh chia sẻ mong muốn, sau buổi làm việc, Tổ Công tác sẽ có tham mưu với Thủ tướng Chính phủ để đôn đốc các bộ, ngành để thực hiện sự công nhận và thừa nhận lẫn nhau. Cùng với đó là tăng cường công tác xã hội hóa và rà soát, xử lý các vấn đề liên quan đến quy chuẩn kỹ thuật.

Liên quan đến công nghệ thiết bị nhập khẩu lạc hâu, Bộ KH&CN cũng đã phối với với các bộ, ngành, hiệp hội tháo gỡ khó khăn. Bên cạnh đó, Bộ KH&CN sẽ tăng cường vai trò quản lý đối với sản phẩm mới.

(Theo Vietq)


  • -

Bộ KH&CN đối thoại với bộ ngành nỗ lực cắt giảm danh mục hàng hóa nhóm 2

Đối thoại giữa Bộ KH&CN với 12 Bộ quản lý ngành, lĩnh vực diễn ra mới đây đã đi đến thống nhất gỡ bỏ ít nhất 50% các loại hàng hóa thuộc diện phải kiểm tra trước khi thông quan sẽ được gỡ nút thắt khi xuất nhập khẩu.

Ông Nguyễn Hoàng Linh phát biểu tại Hội thảo “Rà soát hàng hóa nhóm 2 và văn bản quy phạm pháp luật về thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu”

Nỗ lực tháo gỡ rào cản cho DN

Với việc hàng trăm sản phẩm hàng hóa các loại được đưa ra khỏi danh sách kiểm tra, kiểm soát khi xuất nhập khẩu, doanh nghiệp (DN) sẽ giảm được một lượng lớn công việc về thủ tục giấy tờ và thiết thực hơn là giảm chi phí kiểm tra chất lượng. Chủ trương này được đánh giá là thiết thực để cải thiện môi trường kinh doanh, một trong những động thái rõ nét nhất nhằm gỡ những nút thắt đang tạo ra vướng víu cho DN.

Bộ KH&CN là Bộ được Chính phủ giao chủ trì trong việc rà soát các mặt hàng thuộc nhóm 2 – hàng hóa có khả năng gây mất an toàn, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng và môi trường. Tuy nhiên hiện danh mục hàng hóa nhóm 2 được các bộ ngành quy định quá rộng, nhiều mặt hàng không thực sự có nguy cơ gây mất an toàn.

Đại diện Hiệp hội dệt may Việt Nam cũng như đại diện các bộ ngành đều thống nhất việc có nhiều sản phẩm hàng hóa không thực sự có nguy cơ gây mất an toàn bị xếp vào hàng hóa nhóm 2 đã gây khó khăn cho DN, với hiệp hội này các sản phẩm dệt may các loại vẫn bị xếp vào danh mục hàng hóa nhóm 2 thì chỉ tính riêng việc kiểm tra đối với hàng mẫu nhập khẩu cũng đã mất 1.5 triệu đồng/mẫu.

Theo ông Trương Văn Cẩm – Phó chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng, các DN Dệt may vướng nhất về quy định kiểm tra hàm lượng formandehyd đối với sản phẩm dệt may. “Chính cái đó đã làm cho DN tốn rất nhiều thời gian và chi phí, đặc biệt trước khi thông quan DN bị kiểm tra cả những hàng mẫu khiến cho hàng hóa không đưa về nơi để sản xuất đúng thời hạn nên đã gây khó khăn cho DN rất nhiều”, ông Cẩm nói.

Theo các chuyên gia, hiện công tác kiểm tra chuyên ngành với những sản phẩm hàng hóa nhóm 2 còn gây khó khăn, gây tốn kém chi phí cho DN. Kiểm tra còn chồng chéo, danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành còn nhiều trong khi chưa ban hành dầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chủ yếu kiểm tra bằng cảm quan và trên hồ sơ nên tỷ lệ phát hiện lô hàng vi phạm chỉ có 0,03%.

Theo nhận định của chuyên gia độc lập – TS Hà Đăng Điển, đối với hàng hóa thì sẽ có những sản phẩm nằm trong danh giới nhóm 1 và nhóm 2, do đó những sản phẩm hàng hóa này tạm thời nên bỏ ra ngoài nhóm 2. Như vậy một mặt tạo điều kiện cho DN thuận lợi trong quá trình kinh doanh, mặt khác nếu các sản phẩm này vi phạm thì sẽ sử dụng những chế tài bắt buộc DN phải có trách nhiệm.

Các chuyên gia cũng cho rằng, việc rà soát và loại bỏ khỏi danh mục các sản phẩm hàng hóa nhóm 2 trong bối cảnh hiện nay là cần thiết với mục đích cuối cùng là cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện tối đa cho DN. Tuy nhiên, sau 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm sau khi đưa ra khỏi danh mục mà không thấy ổn thì hoàn toàn có thể đưa trở lại vào danh mục.

Theo kết quả kiểm tra của Tổ công tác của Chính phủ về kiểm tra chuyên ngành vẫn còn nhiều bất cập. Cụ thể như chưa có quy chuẩn kỹ thuật để quản lý hàng hóa nhóm 2, không rõ biện pháp quản lý, một sản phẩm nhưng phải chịu sự quản lý của nhiều cơ quan thẩm quyền khác nhau… điều đó đã gây khó khăn và ách tắc cho DN.

TS Hà Đăng Điển: “Cần sớm loại bỏ các hàng hóa không không thực sự có nguy cơ gây mất an toàn”

DN sẽ rất thuận lợi khi 50% hàng hóa khỏi nhóm 2 được loại bỏ

Theo ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chắt lượng, với sự nỗ lực của các Bộ ngành phấn đấu cắt giảm 50% hàng hóa nhóm 2 từ tiền kiểm sang hậu kiểm tại giai đoạn thông quan thì DN sẽ được giảm các chi phí trong quá trình triển khai thủ tục thông quan đó như chi phí lưu kho, lưu bãi và các thủ tục hành chính trong qúa trình kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm, hành hóa. Bên cạnh đó, thời gian đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng sẽ nhanh hơn.

Đề cập đến những vấn đề có thể nảy sinh khi chuyển kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu từ tiền kiểm sang hậu kiểm như cơ chế giám sát hàng hóa như thế nào để hạn chế những vấn đề như bỏ lọt hàng hóa kém chất lượng ra thị trường, ông Linh cho biết: Công tác tiền kiểm sẽ chặt chẽ hơn so với hậu kiểm. Tất cả các sản phẩm hàng hóa phải đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật thì mới được thông quan, còn đối với hậu kiểm thì trách nhiệm của DN phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa do mình nhập khẩu vào. Tuy nhiên, ban đầu có thể thực hiện cam kết, chứng minh DN có thể đáp ứng các yêu cầu của pháp luật.

“Chúng ra phải quy định rõ cơ chế hậu kiểm như thế nào và đối với sản phẩm hàng hóa không đảm bảo chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu thì phải có cách thức xử lý. Đặc biệt, chúng ta phải có những chế tài phù hợp để xử lý đối với những sản phẩm hàng hóa gây mất an toàn cho người tiêu dùng”, ông Linh nói.

Theo thống kê, các Bộ đã tiến hành rà soát, đề xuất cắt giảm hàng hóa nhóm 2. Cụ thể: Bộ Công Thương đề xuất loại bỏ ra khỏi danh mục 1 nhóm hàng hóa là: Sản phẩm dệt may các loại; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất loại bỏ ra khỏi danh mục 16 sản phẩm như: Giống cây trồng lâm nghiệp; giống vật nuôi trên cạn; động vật và sản phẩm động vật phi thực phẩm…; Bộ Y tế đề xuất loại bỏ ra khỏi danh mục 2 nhóm hàng hóa với 26 sản phẩm; Bộ Xây dựng đề xuất loại bỏ ra khỏi danh mục 36 sản phẩm…

Đặc biệt, văn bản quy định về xuất nhập khẩu hàng hóa nhóm 2 cũng được rà soát nhằm đạt mục đích là khi triển khai trong thực tế sẽ dảm bảo 80% sản phẩm hàng hóa nhóm 2 sẽ được thông quan trong một ngày.

(Theo Vietq)


  • -

Quản lý chặt chẽ chất lượng, xử lý nghiêm hành vi sản xuất phân bón giả

Phó Thủ tướng yêu cầu hoàn thiện văn bản pháp luật nhằm quản lý chặt chẽ chất lượng phân bón, xử lý theo quy định các hành vi sản xuất, kinh doanh phân bón giả.

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia giao Bộ Công an chỉ đạo các lực lượng chức năng làm tốt công tác nắm tình hình, chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kịp thời tham mưu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý chặt chẽ chất lượng phân bón; đồng thời phối hợp với các lực lượng liên quan tiến hành thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, các địa bàn nổi cộm, điểm nóng về sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng.

Bộ Công Thương chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các quy định của pháp luật về chất lượng hàng hóa, điều kiện sản xuất, kinh doanh, bảo quản hàng hóa là phân bón.

Phó Thủ tướng giao Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia theo dõi sát tình hình, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia kết quả đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng.

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu kiểm soát chặt chẽ chất lượng phân bón, xử lý các hành vi sản xuất, kinh doanh phân bón giả. Ảnh: báo Nông Nghiệp

Trong diễn biến có liên quan, vào ngày 4/10 vừa qua, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Long An kiểm tra Chi nhánh Chính Dậu (ấp 1, xã Bình Hòa Nam, huyện Đức Huệ) thuộc Cty TNHH MTV phân bón Kim Nông Nghiệp (Số 165, khu 1, ấp Tân Phong, xã Xuân Tân, Thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai) đã phát hiện lô hàng gồm 233 bao phân bón NPK trộn (11.650 kg) quá hạn sử dụng.

Đoàn kiểm tra đã lập biên bản, tịch thu số phân bón nói trên và tiêu hủy theo quy định. Bà Trương Thị Mỹ Hương, GĐ Cty, thừa nhận lô hàng trên quá hạn nhưng của các công ty phân bón khác giao Chi nhánh bán, Cty đã biết hết hạn nên niêm phong chuẩn bị mang trả lại thì bị Đoàn kiểm tra phát hiện.

Trước đó, vào chiều 15/8, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Long đã hoàn tất công tác tiêu hủy phân bón và mũ bảo hiểm kém chất lượng. Trước đó, vào sáng cùng ngày, Hội đồng tiêu hủy hàng hóa tỉnh Vĩnh Long tiến hành tiêu hủy 79 bao phân bón với tổng trọng lượng gần 4 tấn phân bón kém chất lượng và hơn 1.000 mũ bảo hiểm cùng nhiều phụ kiện dùng sản xuất mũ bảo hiểm không đạt chất lượng.

Ông Đỗ Văn Pha, Phó Chánh thanh tra Sở Công thương tỉnh Vĩnh Long, cho biết toàn bộ số hàng hóa tiêu hủy đợt này là tang vật vi phạm hành chính thuộc hàng hóa, vật phẩm gây nguy hại sức khỏe người tiêu dùng được tịch thu trong thời gian qua.

Bán phân bón phải có bằng cấp

Theo quy định tại Nghị định số 108/2017/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón phải bảo đảm các điều kiện sau:

1- Tổ chức, cá nhân được đăng ký hoặc thành lập theo quy định của pháp luật.

2- Có cửa hàng buôn bán phân bón. Cửa hàng buôn bán phân bón phải có: Biển hiệu, sổ ghi chép việc mua, bán phân bón; bảng giá bán công khai từng loại phân bón niêm yết tại nơi dễ thấy, dễ đọc.

3- Có khu vực chứa phân bón; có kệ hoặc bao lót để xếp đặt hàng.

4- Người trực tiếp bán phân bón phải có Giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về phân bón, trừ trường hợp đã có trình độ trung cấp trở lên một trong các chuyên ngành về lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, nông hóa thổ nhưỡng, nông học, hóa học, sinh học.

Trường hợp cơ sở buôn bán phân bón không có cửa hàng phải có đăng ký doanh nghiệp; có địa điểm giao dịch cố định, hợp pháp; có sổ ghi chép việc mua, bán phân bón và đáp ứng quy định về người trực tiếp bán phân bón.

 

Theo Vietq


  • -

Kiểm tra hàng hoá xuất nhập khẩu: Hậu kiểm chứ không buông lỏng

Để giúp doanh nghiệp thông quan hàng hóa nhanh, giảm bớt thời gian, chi phí, hoạt động kiểm tra chuyên ngành về chất lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu đã được chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thông tư 02/2017/TT-BKHCN (Thông tư 02) sửa đổi, bổ sung mộ số điều của Thông tư 28/2012/TT-BKHCN quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đã nhận được phản hồi tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp và để hiểu rõ hơn về những thay đổi này, Chất lượng Việt Nam đã có trao đổi với ông Nguyễn Hoàng Linh – Phó tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL).

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL Nguyễn Hoàng Linh

Thưa ông, Thông tư 02 (hiệu lực từ ngày 15/5/2017) có những điểm tháo gỡ gì cho doanh nghiệp đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu?

Ông Nguyễn Hoàng Linh: Trước đây, quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa tuân thủ theo Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành luật. Trong luật có đưa ra các khung cụ thể để triển khai quản lý sản phẩm hàng hóa, trong đó có nhiều sản phẩm hàng hóa phải thực hiện tiền kiểm chất lượng sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa nhập khẩu trước khi cho phép vào lưu thông trên thị trường.

Chính vì vậy, trong những năm vừa qua các quy định một phần tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp khi nhập khẩu liên quan đến thời gian lưu kho, bãi, liên quan đến các thủ tục hành chính phải thực hiện theo quy định kiểm tra chuyên ngành xuất nhập khẩu, gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.

Thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ, Tổng cục TCĐLCL cũng đã tham mưu cho Bộ KH&CN ban hành Thông tư 02 với tinh thần làm rõ cách thức công bố hợp quy dựa trên biện pháp tiền kiểm, đặc biệt là biện pháp hậu kiểm để tạo ra khung pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào đó để có nhwungx biện pháp quản lý cụ thể cho từng nhóm sản phẩm hàng hóa do bộ ngành phụ trách. Đặc biệt làm rõ phương thức hậu kiểm thay đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiếm của các Bộ ngành.

Công tác hậu kiểm đối với hàng hoá, xuất nhập khẩu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng liệu có tạo sự buông lỏng trong quản lý chất lượng hàng hoá hay không, thưa ông?

Ông Nguyễn Hoàng Linh: Rõ ràng là công tác tiền kiểm sẽ chặt chẽ hơn so với hậu kiểm. Tiền kiểm thì doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm hàng hóa phải phù hợp với tất cả các quy định của pháp luật trước khi lưu thông. Còn đối với hậu kiểm, doanh nghiệp chỉ cần đáp ứng một phần trước, sau đó được thông quan ngay. Thực hiện theo biện pháp quản lý mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi, môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp.

Tôi cho rằng đây không phải là sự dễ dãi hay buông lỏng mà trong quá trình kiểm tra nhập khẩu mà là tạo điều kiện thuận lợi, phù hợp nhất cho doanh nghiệp thực thi các quy định của pháp luật. Đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu, doanh nghiệp vẫn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng. Nhà nước sẽ thực hiện việc hậu kiểm và đánh giá sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

Các sản phẩm đồ chơi trẻ em, điện – điện tử, thép, mũ bảo hiểm sẽ được chuyển sang hậu kiểm khi nhập khẩu.
Vậy, công tác hậu kiểm có khó khăn gì đối với cơ quan quản lý?

Ông Nguyễn Hoàng Linh: Sau khi chuyển sang cơ chế mới thì ít nhiều cũng xảy ra những khó khăn nhất định, đặc biệt là số lượng công chức thực hiện các công việc ở lĩnh vực này cũng tương đối rộng và để chuyển từng chủ trương từ tiền kiểm sang hậu kiểm cũng cần có thời gian. Đương nhiên là sẽ có khó khăn nhưng không phải có những khó khăn đó mà chúng ta không làm hoặc giữ các biện pháp chặt chẽ mà không tạo thông thoáng cho doanh nghiệp. Những khó khăn sẽ có những nội dung cụ thể và những vướng mắc sẽ được từng bước xử lý.

Mục tiêu của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đặt ra trong công tác cải cách hành chính là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Hoàng Linh: Thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 19-2017/NQ-CP theo hướng kiểm tra ít nhất có thể, đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian kiểm tra, chuyên mạnh sang hậu kiểm và giảm tối đa số lượng hàng hóa phải kiểm tra chất lượng tại khâu thông quan để bảo đảm đạt mục tiêu giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chất lượng tại giai đoạn thông quan từ 35% hiện nay xuống 15%, Tổng cục TCĐLCL đã tham mưu cho Bộ KH&CN ban hành Thông tư số 07/2017/TT-BKHCN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2012/TT-BKHCN quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ KH&CN.

Theo đó, chỉ có duy nhất xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) là áp dụng biện pháp tiền kiểm; tất cả sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 còn lại (thép, đồ chơi trẻ em, thiết bị điện-điện tử, mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy) đã được chuyển sang áp dụng biện pháp hậu kiểm.

(Theo Vietq)